Share to be shared !

Thứ Tư, ngày 07 tháng 12 năm 2011

A Rose for Emily - by William Faulkner (American Literature)

A Rose for Emily

by William Faulkner
Bản dịch chỉ mang tính chất tham khảo

One

WHEN Miss Emily Grierson died, our whole town went to her funeral: the men through a sort of respectful affection for a fallen monument, the women mostly out of curiosity to see the inside of her house, which no one save an old man-servant--a combined gardener and cook--had seen in at least ten years.
Khi cô Emily Grierson qua đời, cả thị trấn chúng tôi đều đến dự tang lễ của cô: đàn ông thì tỏ ra đầy kính trọng như chứng kiến một tương đài sụp đổ, còn phụ nữ hầu hết vì tính hiếu kỳ muốn dòm ngó phía trong nhà cô Emily, nơi ít nhất mười năm qua chẳng ai đặt chân tới ngoại trừ một lão nô bộc kiêm luôn việc vườn tược và bếp núc.

It was a big, squarish frame house that had once been white, decorated with cupolas and spires and scrolled balconies in the heavily lightsome style of the seventies, set on what had once been our most select street. But garages and cotton gins had encroached and obliterated even the august names of that neighborhood; only Miss Emily's house was left, lifting its stubborn and coquettish decay above the cotton wagons and the gasoline pumps-an eyesore among eyesores. And now Miss Emily had gone to join the representatives of those august names where they lay in the cedar-bemused cemetery among the ranked and anonymous graves of Union and Confederate soldiers who fell at the battle of Jefferson.
 Ngôi nhà cô Emily được làm bằng gỗ lớn vuông vắn vốn một thời mang màu trắng tinh, trang hoàng cùng với nó là những mái vòm cong, những chóp nhọn, những ban-công dạng cuốn mang đậm nét thanh nhã của những năm bảy mươi và nó nằm trên một nơi từng một thời là khu phố sang trọng ở chỗ chúng tôi. Nhưng rồi mọi thứ xung quanh nó, cả những danh hiệu cổ đáng quí nhất, cũng dần bị lấn, bị xóa đi bởi những gara và những xưởng dệt bông: duy nhất chỉ còn lại đó là nhà của cô Emily nổi lên trong những chiếc xe chở bông và những trạm bơm ga bằng sự bướng bỉnh và kiểu lối suy tàn của nó, một cảnh gai mắt giữa muôn cảnh gai mắt. Và giờ đây cô Emily cũng đã tiếp bước theo những danh hiệu đáng quí kia - đang nằm trong nghĩa trang rợp bóng tùng giữa những dãy mồ vô danh của những chiến sĩ liên quân miền Bắc hoặc miền Nam mà đã hi sinh trên chiến trường Jefferson.

Alive, Miss Emily had been a tradition, a duty, and a care; a sort of hereditary obligation upon the town, dating from that day in 1894 when Colonel Sartoris, the mayor--he who fathered the edict that no Negro woman should appear on the streets without an apron-remitted her taxes, the dispensation dating from the death of her father on into perpetuity. Not that Miss Emily would have accepted charity. Colonel Sartoris invented an involved tale to the effect that Miss Emily's father had loaned money to the town, which the town, as a matter of business, preferred this way of repaying. Only a man of Colonel Sartoris' generation and thought could have invented it, and only a woman could have believed it.
Thưở sinh thời, cô Emily là một người nặng về truyền thống, bổn phận và là đối tượng để người khác phải chăm lo, một dạng như nghĩa vụ đời đời vốn đã đè nặng lên thị trấn từ 1894 lúc đại tá kiêm thị trưởng Sartoris – người mà đã đẻ ra sắc lệnh cấm tuyệt phụ nữ da màu mang tạp dề mà đi trên phố- miễn thuế cho cô. Nhưng điều đó không có nghĩa là cô Emily nhận sự bố thí từ người khác. Đại tá Sartoris vẽ ra một câu chuyện mà trong đó cha của cô Emily cho thị trấn mượn tiền và theo nguyên tắc sòng phẳng thị trấn đưa ra cách này để trả nợ lại cho ông. Chỉ những người cùng thời và cũng cùng suy nghĩ với đại tá Sartoris mới làm cách đó và cũng chỉ phụ nữ mới tin vào nó.

When the next generation, with its more modern ideas, became mayors and aldermen, this arrangement created some little dissatisfaction. On the first of the year they mailed her a tax notice. February came, and there was no reply. They wrote her a formal letter, asking her to call at the sheriff's office at her convenience. A week later the mayor wrote her himself, offering to call or to send his car for her, and received in reply a note on paper of an archaic shape, in a thin, flowing calligraphy in faded ink, to the effect that she no longer went out at all. The tax notice was also enclosed, without comment.
 Khi thế hệ sau với tư tưởng hiện đại hơn lên làm thị trưởng, làm nghị viên thành phố, họ cảm thấy không mấy hài lòng với sự sắp đặt trước kia. Vào ngày đầu năm, họ gửi cô ấy một giấy báo thuế. Sang đến tháng hai rồi mà họ vẫn chưa nhận được hồi âm nào. Họ viết cho cô một công văn chính thức yêu cầu cô lúc nào thuận tiện thì hãy đến làm việc tại văn phòng quận trưởng. Một tuần sau đích thân thị trưởng viết thư đề nghị cô đến hoặc chính ông ấy sẽ đánh xe đến gặp cô và ông ta nhận được hồi âm là một tờ giấy kiểu xưa với kiểu chữ đẹp, nhỏ được viết liền một mạch trong một màu mực bị phai trong đó cô bảo rằng sẽ không hề ra ngoài. Kèm theo tờ hồi âm ấy là giấy báo thuế mà không có lời giải thích nào.

They called a special meeting of the Board of Aldermen. A deputation waited upon her, knocked at the door through which no visitor had passed since she ceased giving china-painting lessons eight or ten years earlier.
Hội đồng ủy viên thành phố bèn triệu tập một cuộc họp bất thường. Một phái đoàn được cử đến nhà cô, họ gõ cửa, cánh cửa mà tám hay mười năm qua không một người khách nào bước vào, kể từ ngày cô không còn dạy vẽ tranh trên đồ gốm nữa.

They were admitted by the old Negro into a dim hall from which a stairway mounted into still more shadow. It smelled of dust and disuse--a close, dank smell. The Negro led them into the parlor. It was furnished in heavy, leather-covered furniture. When the Negro opened the blinds of one window, they could see that the leather was cracked; and when they sat down, a faint dust rose sluggishly about their thighs, spinning with slow motes in the single sun-ray. On a tarnished gilt easel before the fireplace stood a crayon portrait of Miss Emily's father.
Ông lão da đen dẫn đường cho họ vào một đại sảnh mờ tối tại đó có một cầu thang dẫn họ vào một nơi còn tối hơn. Nơi đó đầy mùi bụi bẩn và ẩm móc nằm trong một không gian lạnh lẽo chật hẹp. Ông lão da đen lại dẫn họ vào phòng khách. Bàn ghế trong phòng được trang bị chắc chắn và đều được bọc da. Khi ông lão mở màn ở một cửa sổ, họ nhận ra rằng những mảng da đều bị rạng và khi ngồi xuống lớp bụi mỏng bay lên và bám vào quanh đùi họ, cùng làn bụi dưới ánh mặt trời. Nằm phía trước lò sưởi là chân dung của cha cô Emily bằng than chì được đặt trên một giá vẽ mạ vàng hoen rỉ.

They rose when she entered--a small, fat woman in black, with a thin gold chain descending to her waist and vanishing into her belt, leaning on an ebony cane with a tarnished gold head. Her skeleton was small and spare; perhaps that was why what would have been merely plumpness in another was obesity in her. She looked bloated, like a body long submerged in motionless water, and of that pallid hue. Her eyes, lost in the fatty ridges of her face, looked like two small pieces of coal pressed into a lump of dough as they moved from one face to another while the visitors stated their errand.
Khi cô bước vào, họ đều đứng dậy. Đó là một người phụ nữ mập mạp và nhỏ bé trong bộ đồ đen với sợi dây chuyền vàng mỏng kéo dài tới thắt lưng và mất hút trong sợi dây lưng. Người phụ nữ ấy chống gậy bằng gỗ mun mà cái cái tay cầm bằng vàng của nó cũng đã bị xạm đi. Khung xương cô nhỏ bé và gầy gò, có lẽ vì thế mà vẻ ngoài của cô, với những người khác chỉ đơn thuần là tròn trịa, thì với cô lại béo phì. Đôi mắt cô mất hút dưới nếp da mập xuệ trên gương mặt, trông như thể hai mẫu than bị nhấn chìm trên một miếng bột nhão khi chúng đang đảo qua gương mặt từng người đến lúc họ tuyên bố mục đích của mình.

She did not ask them to sit. She just stood in the door and listened quietly until the spokesman came to a stumbling halt. Then they could hear the invisible watch ticking at the end of the gold chain.
Cô ta chẳng hề mời họ ngồi. Đứng ở nơi ngưỡng cửa, cô ta im lặng lắng nghe tới khi người phát ngôn của họ chợt ngừng. Lúc ấy, họ có thể nghe rõ tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ đã bị che khuất ở cuối sợi dây chuyền vàng kia.

Her voice was dry and cold. "I have no taxes in Jefferson. Colonel Sartoris explained it to me. Perhaps one of you can gain access to the city records and satisfy yourselves."
Cô ta cất vọng một cách khô khan, lạnh lung “tôi chẳng phải đóng thuế gì ở Jefferson này cả. Đại tá Sartoris đã giải thích với tôi như thế. Có lẽ ai đó trong quí vị nên xem lại hồ sơ của thành phố này và tự tìm hiểu lấy đấy.”

"But we have. We are the city authorities, Miss Emily. Didn't you get a notice from the sheriff, signed by him?"
 - Nhưng chúng làm rồi đấy chứ. Cô Emily à, chúng tôi chính là chính quyền thành phố. Bộ cô chưa nhận được giấy báo thuế do chính ông quận trưởng ký hay sao?

"I received a paper, yes," Miss Emily said. "Perhaps he considers himself the sheriff . . . I have no taxes in Jefferson."
- Có tôi có nhận, cô Emily nói, có lẽ ông ta tự cho minhg là quận trưởng. Tôi chẳng phải đóng thuế gì ở Jefferson cả.

"But there is nothing on the books to show that, you see We must go by the--" "See Colonel Sartoris. I have no taxes in Jefferson."
 - Nhưng sổ sách thì không ghi như vậy, cô hiểu cho là chúng tôi phải…
- Đi mà gặp đại tá Statorist. Ở Jefferson tôi chẳng phải đóng thuế gì cả.

"But, Miss Emily--"
- Nhưng cô Emily…

"See Colonel Sartoris." (Colonel Sartoris had been dead almost ten years.) "I have no taxes in Jefferson. Tobe!" The Negro appeared. "Show these gentlemen out."
"Đi mà gặp đại tá Sartoris" (Đại tá Satoris đã qua đời gần mười năm trước rồi). "Tôi chẳng có thuế má gì ở Jefferson này cả, Tobe ! " Ông lão da đen xuất hiện "Dẫn đường cho các quí ông này ra."




Two
So SHE vanquished them, horse and foot, just as she had vanquished their fathers thirty years before about the smell.
Và rốt cuộc cô Emily đã thắng được bọn họ một cách đáng khâm phục, như cô đã từng đánh bại các bậc cha chú ba mươi năm về trước vì lý do mùi hôi thối bốc ra từ nhà cô.

 That was two years after her father's death and a short time after her sweetheart--the one we believed would marry her --had deserted her. After her father's death she went out very little; after her sweetheart went away, people hardly saw her at all. A few of the ladies had the temerity to call, but were not received, and the only sign of life about the place was the Negro man--a young man then--going in and out with a market basket.
Lúc ấy, cha cô đã mất được hai năm và người yêu của cô– vốn được chúng tôi tin là người sẽ lấy cô, vừa mới bỏ đi. Từ khi cha cô mất, cô Emily ít khi rời khỏi nhà hơn và sau khi người yêu bỏ đi, mọi người hầu như không còn thấy cô nữa. Một vài bà trong xóm đánh liều đến tiếp xúc với cô nhưng được đáp lại và dấu hiệu duy nhất của sự sống ở nơi ấy chỉ là ông lão dao đen – lúc ấy còn trẻ - vẫn cứ ra ra, vào vào cùng cái giỏ đi chợ .

"Just as if a man--any man--could keep a kitchen properly, "the ladies said; so they were not surprised when the smell developed. It was another link between the gross, teeming world and the high and mighty Griersons.
Các mụ đàn bà trong xóm xì xầm với nhau về mùi hôi thối bốc ra từ nhà cô Emily và họ không ngạc nhiên về mùi thối đó vì họ cho rằng làm sao mà một người đàn ông giữ bếp núc ngăn nắp được. Thế là có mối bất bình giữa đám người nhiều chuyện và thô kệch với dòng họ Giersons.

A neighbor, a woman, complained to the mayor, Judge Stevens, eighty years old.
Một mụ đàn bà – hàng xóm của cô Emily đến phàn nàn với ngài thị trưởng Judge Stevens, tám mươi tuổi.

 "But what will you have me do about it, madam?" he said.
Viên thị trưởng hỏi “Bà bảo tôi phải làm gì bây giờ?”

 "Why, send her word to stop it," the woman said. "Isn't there a law? " "I'm sure that won't be necessary," Judge Stevens said. "It's probably just a snake or a rat that nigger of hers killed in the yard. I'll speak to him about it."
Mụ ta đáp trả “Khó gì chứ, gởi cô ta 1 yêu cầu để ngưng ngay mùi hôi thối đó lại, không còn luật pháp gì nữa hay sao?”
Viên thị trưởng trả lời “tôi nghĩ nó không cần thiết như ậy đâu, có lẽ mùi thối đó từ con rắn, hay con chuột mà lão nô bộc đã giết và ném nó ra sân. Tôi sẽ nói chuyện với lão ta sau.”

 The next day he received two more complaints, one from a man who came in diffident deprecation. "We really must do something about it, Judge. I'd be the last one in the world to bother Miss Emily, but we've got to do something." That night the Board of Aldermen met--three graybeards and one younger man, a member of the rising generation.
Hôm sau viên thị trưởng lại nhận thêm hai lời phàn nàn . Một người đàn ông tới đưa ra một lời khẩn cầu. “Thưa ngài chúng ta phải làm gì đó để ngừng nó lại. Bất đắc dĩ tôi sẽ quấy rầy nhà cô Emily, nhưng nó hoàn toàn đúng. “ Tối đó một cuộc họp được triệu tập gồm ba người đứng tuổi và một thanh niên – một thành viên của thế hệ đi sau”.

"It's simple enough," he said. "Send her word to have her place cleaned up. Give her a certain time to do it in, and if she don't. .."
Chàng thanh niên nói “Thật là đơn giản, chúng ta chỉ cần gởi yêu cầu cô ta lau chùi sạch và cho cô ta thời gian để làm việc đó, và nếu cô ấy không thì...”

"Dammit, sir," Judge Stevens said, "will you accuse a lady to her face of smelling bad?"
Ông thẩm phán Stevens nói “Quỷ tha ma bắt, rồi ông sẽ nói thẳng vào mặt một người phụ nữ rằng bà tôi hôi hám hay sao?”

So the next night, after midnight, four men crossed Miss Emily's lawn and slunk about the house like burglars, sniffing along the base of the brickwork and at the cellar openings while one of them performed a regular sowing motion with his hand out of a sack slung from his shoulder. They broke open the cellar door and sprinkled lime there, and in all the outbuildings. As they recrossed the lawn, a window that had been dark was lighted and Miss Emily sat in it, the light behind her, and her upright torso motionless as that of an idol. They crept quietly across the lawn and into the shadow of the locusts that lined the street. After a week or two the smell went away.
Và rồi, hơn giữa khuya hôm sau bốn người đàn ông trong xóm băng qua sân cỏ nhà cô Emily và lẻn vào nhà như những tên trộm. Họ đánh hơi dọc theo cái hầm nhà xây bằng gạch và leo qua cánh cửa thông hơi phía trên hầm. Một trong số họ thọt tay vào bao vôi trên vai anh ta và rải từng nắm đều trên lối đi. Họ phá cửa và đi vào rải vôi khắp cả căn hầm. Khi họ quay ra, họ nhìn thấy cô Emily đang ngồi bên trong cánh cửa sổ, im lặng như một pho tượng. Họ lẵng lẽ băng qua bãi cỏ và đi sâu vào bóng râm của những bóng cây bồ đề dọc bên đường. Sau một hay hai tuần mùi hôi biến mất.

That was when people had begun to feel really sorry for her. People in our town, remembering how old lady Wyatt, her great-aunt, had gone completely crazy at last, believed that the Griersons held themselves a little too high for what they really were. None of the young men were quite good enough for Miss Emily and such. We had long thought of them as a tableau, Miss Emily a slender figure in white in the background, her father a spraddled silhouette in the foreground, his back to her and clutching a horsewhip, the two of them framed by the back-flung front door. So when she got to be thirty and was still single, we were not pleased exactly, but vindicated; even with insanity in the family she wouldn't have turned down all of her chances if they had really materialized.
Cũng từ đó mọi người cảm thấy thương hại cho cô ấy. Dân trong xóm nhớ về bà Wyatt, bà cô của cô Emily, sau cùng đã phát điên lên vì nhận ra rằng dòng họ Giersons đã quá đề cao về mình. Không có người đàn ông nào hoàn thiện với cô Emily cả. Chúng thường hình dung những người trong dòng họ của cô như trên một bức ảnh – Cô Emily dáng người thanh mảnh trong trang phục màu trắng, phía trước là cha cô, xoay lưng lại với cô và đôi bàn tay ông ta cầm một cây roi ngựa, cả hai cha con nổi bật bên trong khung hình. Vì vậy khi cô ba mươi tuổi mà vẫn chưa có chồng, chúng tô nào sung sướng gì, chỉ là chúng tôi cảm thấy được thỏa mãn. Thậm chí ngay khi có căn bệnh điên loạn trong gia đình cô cũng chằng thèm dòm ngó đến nếu điều đó có thật sự xảy ra.

When her father died, it got about that the house was all that was left to her; and in a way, people were glad. At last they could pity Miss Emily. Being left alone, and a pauper, she had become humanized. Now she too would know the old thrill and the old despair of a penny more or less.
Khi cha cô ấy chết, tất cả gia sản để lại cho cô ấy chỉ là ngôi nhà và mọi người đã vui mừng cho cô ấy. Nhưng rồi cuối cùng, họ lại thương hại cho cô Emily. Bị bỏ rơi và sống trong hoàn cảnh nghèo nàn, cô mới thấm thía được thế thái nhân tình. Bây giờ cô đã hiểu ra giá trị của một đồng xu như thế nào.

The day after his death all the ladies prepared to call at the house and offer condolence and aid, as is our custom Miss Emily met them at the door, dressed as usual and with no trace of grief on her face. She told them that her father was not dead. She did that for three days, with the ministers calling on her, and the doctors, trying to persuade her to let them dispose of the body. Just as they were about to resort to law and force, she broke down, and they buried her father quickly.
Sau hôm thân phụ cô mất, tất cả mụ đàn bà trong xóm đến chia buồn và giúp đỡ cô. Và như phong tục, cô Emily đứng chào họ tại cánh cửa chính, cô ăn bận như ngày thường, và không có vẻ buồn bã trên mặt cô ấy. Cô ấy bảo là cha cô ấy chưa mất. Cô Emily cứ quả quyết như vậy đến ngày thứ ba, chỉ khi các vị mục sư đến viếng và các vị bác sĩ thuyết phục cô ấy để cho họ chôn cất thi thể. Rồi mãi đến khi họ tạo áp lực cho cô ấy, thì cô mới chịu nghe lời, họ vội vã chôn cất cha cô.

We did not say she was crazy then. We believed she had to do that. We remembered all the young men her father had driven away, and we knew that with nothing left, she would have to cling to that which had robbed her, as people will.
Tất cả chúng tôi không ai nói cô ta điên cả. Chúng tối chắc là cô ấy chẳng thể nào làm khác được. Chúng tôi nhớ lại lúc cha cô ấy còn sống, ông thường xô đuổi các chàng trai khi họ đến nhà chơi, và chúng tôi bây giờ đã hiểu cô ấy không còn gì cả, cô chỉ còn cách níu kéo cái mà đã tước đoạt đi mọi thứ của cô ấy, như mọi người vẫn thường làm.


Three
SHE WAS SICK for a long time. When we saw her again, her hair was cut short, making her look like a girl, with a vague resemblance to those angels in colored church windows--sort of tragic and serene.
Cô bệnh khá lâu, khi chúng tôi gặp cô tóc cô đã cắt ngắn khiến cô trông giống như một cô gái có nét gì đó như những hình vẽ thiên thần trên cưa kính màu của nhà thờ - vừa có vẽ bi thương lại vừa trong sáng.

The town had just let the contracts for paving the sidewalks, and in the summer after her father's death they began the work. The construction company came with riggers and mules and machinery, and a foreman named Homer Barron, a Yankee--a big, dark, ready man, with a big voice and eyes lighter than his face. The little boys would follow in groups to hear him cuss the riggers, and the riggers singing in time to the rise and fall of picks. Pretty soon he knew everybody in town. Whenever you heard a lot of laughing anywhere about the square, Homer Barron would be in the center of the group. Presently we began to see him and Miss Emily on Sunday afternoons driving in the yellow-wheeled buggy and the matched team of bays from the livery stable.
Thị trấn vừa ký kết hợp đồng lát gạch lề đường, và vào mùa hè sau năm thân phụ cô qua đời, họ bắt đầu tiến hành công việc. Công ty xây dựng đem đến bọ phu da đen, những con la và máy móc, cùng người quản đốc tên là Homer Baron, một gã Bắc Mỹ - cao to, da ngăm đen , tháo vát, giọng nói ồm ồm và đôi mắt sang hơn nước da. Bọn trẻ thường xúm lại thành từng đám bu quanh gã để nghe gã la mắng chửi rủa bọn da đen và nghe bọn này cất tiếng hát theo tiếng cuốc đất. Không lâu sau, gã đã biết hết mọi người trong thị trấn. Mỗi khi nghe có tiếng cười rộ ở đâu đó là y như rằng Homer Barron tâm điểm của cuộc vui. Thời gian ấy vào những chiều Chủ nhật, chúng tôi bắt đầu thấy gã và cô Emily đi chung trên chiếc xe ngựa có bánh màu vàng đóng cặp hồng mã đi ra từ một chuồng ngựa hạng sang.

At first we were glad that Miss Emily would have an interest, because the ladies all said, "Of course a Grierson would not think seriously of a Northerner, a day laborer." But there were still others, older people, who said that even grief could not cause a real lady to forget noblesse oblige without calling it noblesse oblige.
Lúc đầu chúng tôi thấy hân hoan khi thấy cô Emily đã có được niềm vui sống, bởi trước đây các mụ đàn bà đều nói: “Con gái nhà Grierson dĩ nhiên sẽ không them để mắt đến một gã miền Bắc làm công ăn lương theo ngày.” Nhưng rồi những người lớn tuổi hơn nói rằng dù sầu khổ đến mấy cũng không thể làm cho một cô gái quyền quý quên đi nghĩa vụ của một quý tộc – mà không nói thẳng là nghĩa vụ của quý tộc.

They just said, "Poor Emily. Her kinsfolk should come to her." She had some kin in Alabama; but years ago her father had fallen out with them over the estate of old lady Wyatt, the crazy woman, and there was no communication between the two families. They had not even been represented at the funeral.
Họ chỉ nói rằng: “Tội nghiệp cho Emily. Thân quyến cô rồi sẽ đến thăm cô.” Cô ấy có một vài người thân tại Alabama; nhưng cách đây nhiều năm, cha cô ấy đã xích mích với họ về việc thừa hưởng đất đai từ quý bà Wyatt, một bà điên, và rồi cả hai bên chẳng còn lien lạc với nhau nữa. Thậm chí cũng chẳng có ai đến viếng đám tang.

And as soon as the old people said, "Poor Emily," the whispering began. "Do you suppose it's really so?" they said to one another. "Of course it is. What else could . . ."
Và ngay sau đó họ lại chép miệng: “Tội nghiệp Emily.”
Lời thì thầm bắt đầu: “Chị có nghĩ thật sự vậy không?”
Họ nói với nhau: “ Dĩ nhiên là vậy rồi. Còn gì khác ngoài…”

This behind their hands; rustling of craned silk and satin behind jalousies closed upon the sun of Sunday afternoon as the thin, swift clop-clop-clop of the matched team passed: "Poor Emily."
Họ che miệng bảo nhau hoặc xì xầm dưới những tấm lụa được kéo lên và đóng lại vào một buổi chiều chủ nhật khi vừa có tiếng clop clop clop của cặp hồng mã nhẹ nhàng lướt qua. “ Tội nghiệp cho Emily.”

She carried her head high enough--even when we believed that she was fallen. It was as if she demanded more than ever the recognition of her dignity as the last Grierson; as if it had wanted that touch of earthiness to reaffirm her imperviousness. Like when she bought the rat poison, the arsenic. That was over a year after they had begun to say "Poor Emily," and while the two female cousins were visiting her.
Cô vẫn ngẩng cao đầu – thậm chí ngay cả khi chúng tôi tin rằng cô thất bại. Cứ như thế là hơn bao giờ hết cô đòi mọi người phải công nhận cái phẩm cách của cô như một người cuối cùng trong giòng họ Gierson và dường như chính cái vẽ tầm thường ấy tài xác nhận nhân cách bất khả xâm phạm của cô. Ví như hôm cô đi ma thuốc chuột, một chất cực độc. Việc đó đã hơn một năm sau khi họ nói: “Tội nghiệp Emily” và trong khi hai người chị họ đến thăm cô.

"I want some poison," she said to the druggist.
Cô ấy bảo người bán thuốc: “Tôi muốn mua thuốc độc.”

 She was over thirty then, still a slight woman, though thinner than usual, with cold, haughty black eyes in a face the flesh of which was strained across the temples and about the eyesockets as you imagine a lighthouse-keeper's face ought to look. "I want some poison," she said.
Lúc ấy cô đã hơn ba mươi tuổi, dáng vẽ vẫn mảnh mai, mặc dù gầy hơn thông thường, cặp mắt đen láy, kiêu kỳ và lạnh lung trên khuôn mặt da thịt căng tới thái dương bao quanh hai mắt trong như khuôn mặt của người gác hải đăng mà bạn có thể tưởng tượng ra. Cô bảo;
- Tôi muốn mua thuốc độc.

"Yes, Miss Emily. What kind? For rats and such? I'd recom--"
- Vâng, thưa cô Emily. Loại nào ạ? Loại dành cho chuột hay loại gì thế? Tôi sẽ giới thiệu…

"I want the best you have. I don't care what kind."
- Tôi muốn mua loại tốt nhất mà ông có. Tôi không quan tâm loại nào

The druggist named several. "They'll kill anything up to an elephant. But what you want is--"
- Những thứ đó có thể giết được cả voi ….nhưng loại cô muốn dung là ….

"Arsenic," Miss Emily said. "Is that a good one?"
- Thạch tín – cô Emily đáp – Loại tốt nhất phải không?

"Is . . . arsenic? Yes, ma'am. But what you want--"
- Thạch ….tín à? Vâng, thưa cô. Nhưng cái cô muốn là ….

"I want arsenic."
- Tôi muốn thạch tín.

The druggist looked down at her. She looked back at him, erect, her face like a strained flag. "Why, of course," the druggist said. "If that's what you want. But the law requires you to tell what you are going to use it for."
Người bán thuốc nhìn cô, cô đứng thẳng người nhìn lại ông ta, mặt cô căng như lá cờ gió. Ngưới bán thuốc nói:
- Tất nhiên rồi. Nếu quả thực đó là thứ cô cần. Nhưng theo luật, xin cô cho biết cô sẽ dung chất đó vào việc gì.



Miss Emily just stared at him, her head tilted back in order to look him eye for eye, until he looked away and went and got the arsenic and wrapped it up. The Negro delivery boy brought her the package; the druggist didn't come back. When she opened the package at home there was written on the box, under the skull and bones: "For rats."
Cô Emily chỉ nhìn chằm chằm vào mặt ông ta, đầu cô ngả ra phía sau để mắt cô có thể nhìn thẳng vào mắt ông ấy cho đến khi ông ấy quay lưng đi hướng khác để lấy thạch tín mà gói lại. Một thằng bé giao hàng da đen mang gói thạch tín đến cho cô; còn người bán thuốc không hề trở ra. Khi về đến nhà và mở gói thuốc ra, cô thấy trên cái hộp có hình đầu lâu, xương chéo lại dưới đó là hàng chữ “Dùng cho chuột.”


Four
So THE NEXT day we all said, "She will kill herself"; and we said it would be the best thing. When she had first begun to be seen with Homer Barron, we had said, "She will marry him." Then we said, "She will persuade him yet," because Homer himself had remarked--he liked men, and it was known that he drank with the younger men in the Elks' Club--that he was not a marrying man. Later we said, "Poor Emily" behind the jalousies as they passed on Sunday afternoon in the glittering buggy, Miss Emily with her head high and Homer Barron with his hat cocked and a cigar in his teeth, reins and whip in a yellow glove.
Thế rồi hôm sau chúng tôi bảo nhau rằng: ‘Cô ấy sẽ tự sát’ và chúng tôi cho rằng như vậy sẽ tốt hơn cho cô. Khi cô ấy lần đầu gặp Homer Barron chúng tôi đã nói rằng: ‘Cô ta sẽ lấy hắn’. Thế rồi chúng tôi lại bàn nhau rằng: “Tất nhiên cô ta sẽ thuyết phục được gã’ bởi vì tự bản thân Homer – một gã chỉ thích đàn đúm với những gã đàn ông khác và nổi tiếng về việc đi nhậu cùng những tên thanh niên ở câu lạc bộ Elk- thừa nhận rằng hắn không thích hợp để lập gia đình. Rồi sau đó nữa chúng tôi lại nói: ‘Emily thật đáng thương” phía sau những tấm màn khi họ lướt qua vào một chiều Chủ Nhật trên một cỗ xe ngựa mui trần bóng loáng, cô Emily thì ngẩn cao đầu còn Homer Barron thì đội chiếc mũ ba góc không vành, miệng nghiến chặt điếu xì gà còn tay thì cầm dây cương và roi với găng tay màu vàng.

Then some of the ladies began to say that it was a disgrace to the town and a bad example to the young people. The men did not want to interfere, but at last the ladies forced the Baptist minister--Miss Emily's people were Episcopal-- to call upon her. He would never divulge what happened during that interview, but he refused to go back again. The next Sunday they again drove about the streets, and the following day the minister's wife wrote to Miss Emily's relations in Alabama.
Thế rồi một số bà cho rằng như thế là một sỉ nhục cho thị trấn và là gương xấu cho lớp trẻ. Đàn ông thì chả muốn xía vào, nhưng rồi cuối cùng các bà cũng tác động vào mục sư phái Baptist đi tiếp xúc cô- toàn bộ những người thuộc nhà cô Emily đều theo dòng Giám mục. Ông không hé lộ bất cứ việc gì xảy ra trong buổi tiếp xúc nhưng ông từ chối quay lại. Chủ Nhật sau, họ tiếp tục lái xe qua các nẻo đường và ngày sau đó nữa bà vợ của mục sư viết thư gửi thân thích của cô Emily tai Alabama.

So she had blood-kin under her roof again and we sat back to watch developments. At first nothing happened. Then we were sure that they were to be married. We learned that Miss Emily had been to the jeweler's and ordered a man's toilet set in silver, with the letters H. B. on each piece. Two days later we learned that she had bought a complete outfit of men's clothing, including a nightshirt, and we said, "They are married." We were really glad. We were glad because the two female cousins were even more Grierson than Miss Emily had ever been.
Vậy là cô ta cùng thân quyến của mình lại chung một mái nhà và chúng tôi thì tạm ngừng bàn tán để chờ xem diễn tiến ra sao. Lúc đầu thì chẳng có gì diễn ra. Nhưng rồi chúng tôi chắc là họ sắp lấy nhau. Vì chúng tôi biết tin là cô Emily trước đó đã đến tiệm kim hoàn và đặt một bộ trang sức nam bằng bạc đính kèm trên đó là hai chữ cái H.B trên mỗi mảnh. Hai ngày sau, chúng tôi lại biết được rằng cô ấy đã đi mua trọn một bộ đồ và quần áo cho nam, có cả đồ ngủ và chúng tôi kết luận rằng: ‘Họ thật sự lấy nhau rồi’. Chúng tôi thật sự lấy làm mừng. Chúng tôi mừng vì ít ra cô Emily cũng không đến nỗi quá cốt cách theo kiểu nhà Grierson như hai cô chị họ của cô ta.

So we were not surprised when Homer Barron--the streets had been finished some time since--was gone. We were a little disappointed that there was not a public blowing-off, but we believed that he had gone on to prepare for Miss Emily's coming, or to give her a chance to get rid of the cousins. (By that time it was a cabal, and we were all Miss Emily's allies to help circumvent the cousins.) Sure enough, after another week they departed. And, as we had expected all along, within three days Homer Barron was back in town. A neighbor saw the Negro man admit him at the kitchen door at dusk one evening.
Vì lẽ đó mà chúng tôi cũng chả mấy ngạc nhiên khi Homer biến đi-lúc này phía đường xá đã xong cách đây khá lâu. Chúng tôi hơi thất vọng vì chẳng có một cuộc vui chung nào nhưng chúng tôi tin rằng hắn chỉ bỏ đi để chuẩn bị đón cô Emily hoặc giúp cô có cơ hội thoát khỏi các cô chị họ (vào lúc ấy, quả thực chúng tôi đều về phía cô Emily giúp cô mưu mẹo để đuổi các bà chị họ kia). Một cách chắc chắn là họ đều ra đi sau một tuần. Và nhưng chúng tôi tiên liệu, chưa đầy ba ngày sau, Homer Barron đã trở lại. Trong một buổi chiều nhá nhem tối, một gã hàng xóm thấy ông lão da đen cho hắn vào từ lối cửa bếp.

And that was the last we saw of Homer Barron. And of Miss Emily for some time. The Negro man went in and out with the market basket, but the front door remained closed. Now and then we would see her at a window for a moment, as the men did that night when they sprinkled the lime, but for almost six months she did not appear on the streets. Then we knew that this was to be expected too; as if that quality of her father which had thwarted her woman's life so many times had been too virulent and too furious to die.
Và đó là lần cuối mà chúng tôi còn trông thấy Homer Barron. Còn cô Emily thì thỉnh thoảng mới thấy. Ông lão da đen thì vẫn ra ra vào vào cùng chiếc giỏ nhưng cửa thì vẫn mãi đóng. Từ đấy đến giờ chúng tôi thi thoảng thấy cô ấy bên cửa sổ nhưng buổi tối mà bốn người đàn ông trong xóm rắc vôi vào nhà cô. Có khoảng thời gian gần sáu tháng chẳng hề thấy cô trên đường. Thế rồi lúc đó chúng tôi mới ngớ người ra, chúng tôi cũng dư liệu đến một điều là dường như tính cách gia trưởng và độc đoán của than phụ cô đã quá nhiều lần mâu thuẫn và ăn sâu vào nếp sống của cô đến nỗi không thể thay đổi được.

When we next saw Miss Emily, she had grown fat and her hair was turning gray. During the next few years it grew grayer and grayer until it attained an even pepper-and-salt iron-gray, when it ceased turning. Up to the day of her death at seventy-four it was still that vigorous iron-gray, like the hair of an active man.
Lần sau khi chúng tôi thấy cô Emily, cô ta đã mập ra mái tóc cô đã ngã màu xám. Trong vài năm kế đó, mái tóc ngã màu nhiều hơn nữa cho tới lúc không còn ngã màu nữa. Tóc cô đã thành một mái tóc màu muối tiêu, màu xám sắt. Đến ngày cô mất ở tuổi bảy mươi tư, nó vẫn còn mang màu xám sắt mạnh mẽ như một người đàn ông khỏe mạnh.

 From that time on her front door remained closed, save for a period of six or seven years, when she was about forty, during which she gave lessons in china-painting. She fitted up a studio in one of the downstairs rooms, where the daughters and granddaughters of Colonel Sartoris' contemporaries were sent to her with the same regularity and in the same spirit that they were sent to church on Sundays with a twenty-five-cent piece for the collection plate. Meanwhile her taxes had been remitted.
Kể từ lúc ấy trở đi cửa chính nhà cô vẫn mãi đóng và cứ thế trong độ sáu bảy năm lúc ấy cô ta đã độ bốn mươi và thời gian này cô ấy dạy vẽ trên đồ gốm. Cô ta cho dựng một xưởng tại một trong những căn phòng ở lầu một, tại đây các cô con gái rồi cháu gái của những người cùng thời với đại tá Statorist được đều đặn gửi đến học đều đặn – với tinh thần na ná như là đi lễ vào Chủ Nhật. Mỗi người đi học phải góp vào đĩa hai mươi lăm cent trong khi đó cô ta vẫn được miễn thuế.


Then the newer generation became the backbone and the spirit of the town, and the painting pupils grew up and fell away and did not send their children to her with boxes of color and tedious brushes and pictures cut from the ladies' magazines. The front door closed upon the last one and remained closed for good. When the town got free postal delivery, Miss Emily alone refused to let them fasten the metal numbers above her door and attach a mailbox to it. She would not listen to them.
Thế rồi sau đó thế hệ trẻ hơn trở thành trụ cột và linh hồn của thị trấn, và lũ học trò học vẽ năm xưa đã khôn lớn, chẳng còn đưa con họ đến chỗ cô với những hộp màu, những chổi vẽ chán ngắt và những mẫu tranh cắt ra từ các tạp chí phụ nữ. Khi đứa học trò cuối cùng rời đi, cửa chính nhà cô đóng mãi từ đấy. Lúc thị trấn có dịch vụ giao thư miễn phí, chỉ có cô Emily là từ chối cho họ đóng bảng số bằng sắt lân cửa nhà cô và gắn hộp thư vào. Cô ta không hề chịu lắng nghe họ.



Daily, monthly, yearly we watched the Negro grow grayer and more stooped, going in and out with the market basket. Each December we sent her a tax notice, which would be returned by the post office a week later, unclaimed. Now and then we would see her in one of the downstairs windows--she had evidently shut up the top floor of the house--like the carven torso of an idol in a niche, looking or not looking at us, we could never tell which. Thus she passed from generation to generation--dear, inescapable, impervious, tranquil, and perverse.
Ngày qua, tháng tới, năm đi chúng tôi thấy rõ mái tóc ông lão da đen xám dần và lưng còng hơn vẫn ra ra vào vào cùng chiếc giỏ. Cứ mỗi tháng mười hai, chúng tôi lại gửi giấy báo thuế cho cô mà rồi sau đó phía bưu điện sẽ trả lời sau một tuần với thông báo là không có người nhận. Thỉnh thoảng, chúng tôi có thấy cô ta từ một cửa sổ ở lầu một -Tất nhiên là cô ta đã đóng cửa hết lầu trên ngôi nhà - tựa như một bức tượng nằm ở hốc tường. Việc cô có thấy chúng tôi hay không cũng khó mà nói được. Vì thế mà cô đã đi qua từ thế hệ này đến thế hệ khác- cao giá, bất khả xâm phạm, không lẩn trốn, trầm tĩnh và ngoan cố.

 And so she died. Fell ill in the house filled with dust and shadows, with only a doddering Negro man to wait on her. We did not even know she was sick; we had long since given up trying to get any information from the Negro He talked to no one, probably not even to her, for his voice had grown harsh and rusty, as if from disuse.
Và thế cô ta lâm bệnh và mất đi trong ngôi nhà đầy bụi và bóng tối với duy nhất ông lão da đen lụm khụm kề bên hầu hạ. Chúng toi thậm chí không biết cô ta bệnh vì đã từ lâu không còn ai khai thác được bất cứ thông tin gì từ ông lão da đen nữa.
Ông ta không nói chuyện với ai và có lẽ với cả cô ấy vì chất giọng thô ráp và rỉ sét như không hề dùng tới của ông nữa.

She died in one of the downstairs rooms, in a heavy walnut bed with a curtain, her gray head propped on a pillow yellow and moldy with age and lack of sunlight.
Cô ta mất tại một trong những phòng ở lầu một trên một cái giường nặng nề bằng gỗ hồ đào với một chiếc màn, mái đầu xám của cô được đỡ bằng một chiếc gối màu vàng móc meo cùng năm tháng và vì thiếu ánh sáng.


Five
THE NEGRO met the first of the ladies at the front door and let them in, with their hushed, sibilant voices and their quick, curious glances, and then he disappeared. He walked right through the house and out the back and was not seen again.
Ông lão nô bộc da đen đón người đi đầu trong đám phụ nữ tại cửa chính và để họ vào trong với tiếng thì thầm cùng những cái nhìn lướt qua đầy tò mò và rồi ông ta lén đi mất. Ông ta đi qua căn nhà và rờ khỏi nhà từ phái cửa sau và rồi chẳng còn ai thấy lão nữa.


The two female cousins came at once. They held the funeral on the second day, with the town coming to look at Miss Emily beneath a mass of bought flowers, with the crayon face of her father musing profoundly above the bier and the ladies sibilant and macabre; and the very old men --some in their brushed Confederate uniforms--on the porch and the lawn, talking of Miss Emily as if she had been a contemporary of theirs, believing that they had danced with her and courted her perhaps, confusing time with its mathematical progression, as the old do, to whom all the past is not a diminishing road but, instead, a huge meadow which no winter ever quite touches, divided from them now by the narrow bottle-neck of the most recent decade of years.
Hai người chị họ cũng hối hả đến. Họ làm đám tang vào ngày thứ hai sau khi cô mất, khi mọi người trong thị trấn đến viếng cô Emily đặt những đóa hoa được mua trước đó bên cạnh cô và cạnh bức chân dung bằng than chì của cha cô với dáng vẻ đang đăm chiêu và những người phụ nữ bàn tán trong tiếng xì xầm; những ông lão cao niên – một số trong quân phục liên quân miền Nam được chải chuốt - ở hành lang và bãi cỏ, đang bàn về cô Emily như thể cô ở cùng thời với họ, tin rằng họ đã từng khiêu vũ cùng cô và có lẽ là ve vãn cô, và cũng như bao người già khác họ cũng đang nhầm lẫn trong việc tính toán thời gian mà với họ quá khứ không phải còn đường đang dần bị lãng quên mà là một cánh đồng cỏ bao la mà không có mùa đông nào có thể chạm tới khiến họ cảm thấy mười năm vừa qua trong đời họ thật ngắn ngủi.

Already we knew that there was one room in that region above stairs which no one had seen in forty years, and which would have to be forced. They waited until Miss Emily was decently in the ground before they opened it.
Và rồi chúng tôi mới nhậ ra có một căn phòng ở tầng trên mà đã bốn mươi năm qua không ai biết đến và phải phá cửa mới vào được. Họ đợi cho tới khi cô Emily mồ yên mã đẹp mới mở nó ra.

The violence of breaking down the door seemed to fill this room with pervading dust. A thin, acrid pall as of the tomb seemed to lie everywhere upon this room decked and furnished as for a bridal: upon the valance curtains of faded rose color, upon the rose-shaded lights, upon the dressing table, upon the delicate array of crystal and the man's toilet things backed with tarnished silver, silver so tarnished that the monogram was obscured. Among them lay a collar and tie, as if they had just been removed, which, lifted, left upon the surface a pale crescent in the dust. Upon a chair hung the suit, carefully folded; beneath it the two mute shoes and the discarded socks.
Người ta phá cửa mạnh đến độ làm căn phòng bụi mù tung lên. Dường như có mùi chết choc bao phủ khắp cả căn phòng vốn được trang trí cho cô dâu và chú rể: lẫn trong những tấm màng che màu hồng nhạt, những ngọn đèn hình hoa hồng, bàn trang điểm và cả những đồ pha lê thanh nhã và những trang phục cho nam với lớp bạc mờ đến độ những chữ viết tắt đã không còn đọc được nữa. Nằm giữa chúng là chiếc cổ áo và cà vạt như thể vừa mới được tháo ra – chỉ còn để lại vết hằn hình lưỡi liềm mờ trên lớp bụi. Trên một cái ghế có một bộ vét được gấp cẩn thận và treo lên; ngay bên dưới là đôi giày nằm lặng lẽ cùng đôi vớ bị vứt đi.

The man himself lay in the bed.
Chính là người đàn ông ấy trên giường.

For a long while we just stood there, looking down at the profound and fleshless grin. The body had apparently once lain in the attitude of an embrace, but now the long sleep that outlasts love, that conquers even the grimace of love, had cuckolded him. What was left of him, rotted beneath what was left of the nightshirt, had become inextricable from the bed in which he lay; and upon him and upon the pillow beside him lay that even coating of the patient and biding dust.
Chúng tôi đứng lặng hồi lâu và cúi nhìn cái miệng cười sâu hóm không còn chút da thịt nào nữa. Chắc hẳn cái xác đã từng nằm ở thế ôm ấp, nhưng giờ giấc ngủ dài vốn chinh phục được bở tình yêu mù quáng đã đánh lừa được hắn. Những gì còn lại của hắn, một thân xác thối rữa trong bộ đồ ngủ, chẳng thể tách ra khỏi chiếc giường,và trên chiếc gối cạnh hắn có một lớp bụi dày đặc.

Then we noticed that in the second pillow was the indentation of a head. One of us lifted something from it, and leaning forward, that faint and invisible dust dry and acrid in the nostrils, we saw a long strand of iron-gray hair.
Rồi chúng tôi nhận ra trên cái gối thứ hai cạnh bên có vết lõm đầu của người đã nằm. Một người trong chúng tôi nhắc một thứ từ nó lên, và khi cúi xuống, lớp bụi gờn gợn vô hình khô khan mùi hăng sè xông thẳng lên mũi, chúng tôi nhận ra một sợi tóc màu bạc sắt.

----------------------------------------------------------------------------------------------------------



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét